A Chi, A Chi - Uin

Chương 62: Đánh thế nào đây




[Đọc truyện miễn phí tại truyenfull.win]

Hàng chục vạn đại quân bị địch bao vây từ hai cánh Ngày 8 tháng 11, mệnh lệnh toàn tuyến rút lui được ban xuống. Dưới sự truy kích và oanh tạc gắt gao của quân Nhật, tàn quân rút chạy về phía Nam Kinh.

Đến ngày 12, Thượng Hải thất thủ.

Cuộc chiến này kéo dài suốt ba tháng, quân Xuyên, quân Quế, quân Việt, quân Tương, quân Tây Bắc và quân Đông Bắc đã cùng hội lại tại Thượng Hải, quyết tử chiến đấu đến cùng. 19 vạn chiến sĩ đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc, thêm hàng chục vạn người khác ngã xuống trong quá trình rút quân, đập tan lời ngạo mạn “ba tháng diệt vong của Trung Hoa” của quân Nhật.

Bộ binh trọng thương, sĩ khí giảm sút nghiêm trọng.

Trên đường về Nam Kinh, mưa lớn không dứt, nhưng cơn mưa có lớn đến mấy cũng không thể gột rửa được nỗi phẫn uất trong lòng các tướng sĩ.

Có người nghiến răng kèn kẹt, có người lặng im trầm tư, có người sụp đổ khóc rống lên…

Nam nhi không dễ rơi lệ, nhưng lúc này, vô số giọt lệ nóng hổi đã thấm đẫm mảnh đất này.

Tất cả chiến sĩ đều hướng về phía Thượng Hải mà chào.

Những giọt nước mắt ấy dành cho 29 vạn đồng đội đã tuẫn quốc, dành cho những người dân chết dưới làn tên mũi đạn, dành cho những kẻ cầm quyền còn đang do dự ký thác hy vọng vào quốc tế, và dành cho non sông gấm vóc đã kiên trì thủ vững suốt ba tháng qua…

Lúc này tại Nam Kinh, các công xưởng, trường học và cơ quan đơn vị đều đã triển khai công tác di dời. Các nhà ngoại giao lần lượt rời đi, chính phủ Quốc dân cũng dời đô về Trùng Khánh.

Dọc đường đi, quân Nhật đốt phá, giết chóc, cướp bóc, chẳng mấy chốc đã áp sát chân thành.

Máy bay không ngừng ném bom vào trong thành, người dân rơi vào cảnh ly tán, xác chết chất đầy đường, các bệnh viện đều quá tải.

Tiếng pháo súng ngoài thành không dứt, quân Nhật đã chọc thủng phòng tuyến ngoại vi Nam Kinh.

Lòng người hoảng loạn, ai nấy đều nói Nam Kinh không giữ được nữa rồi.

Người dân lũ lượt chạy vào khu an toàn để lánh nạn. Từ sáng sớm, Mạnh Nguyên và A Như đã chen chúc bên ngoài, xếp thành một hàng dài dằng dặc, nhưng chẳng mấy chốc nơi đó đã đầy, không còn nhận thêm người nữa, họ lại phải chuyển sang một khu an toàn khác.

Phía trước có một gia đình đang chen lấn, A Như nhận ra giọng của họ, liền kéo người ta lại hỏi: “Mọi người là người Giang Âm ạ?”

“Đúng thế.” Người phụ nữ bế đứa con, quan sát cô một hồi: “Cô cũng từ Giang Âm tới à?”

“Em ở Nam Kinh suốt.” A Như nhìn họ túi lớn túi nhỏ, hỏi: “Mọi người mới tới Nam Kinh sao?”

“Ừ.”

“Sao mọi người lại chạy đến đây? Nam Kinh đánh nhau rồi! Quân Nhật đã tới ngoài thành rồi đó.”

“Chỗ nào mà chẳng đánh! Tô Châu, Thường Thục, Trấn Giang, Vô Tích, Giang Âm, Dương Châu, Thường Châu, rồi cả vùng Chiết Giang nữa, xung quanh đều bị quân Nhật chiếm hết rồi. Nhà tôi cứ nhất quyết bảo đại bản doanh đặt ở Nam Kinh, chạy về thủ đô thì chắc chắn sẽ không sao, giờ Chính phủ dời đi rồi, Nam Kinh cũng không ra ngoài được nữa.” Người phụ nữ thở dài: “Chúng sẽ đồ thành mất, nghe nói bên Tô Châu xác người chất đầy đường, cả binh lính lẫn dân thường đều có.”

Người tị nạn bên cạnh nghe vậy thì hỏi: “Cả dân thường mà chúng cũng giết sao?”

“Chết thôi thì đã là gì, chúng còn chém bay đầu họ, trẻ nhỏ cũng không tha, còn cưỡng h**p phụ nữ, có đứa mới chỉ mười mấy tuổi thôi.”

“Lũ súc sinh!”

Mạnh Nguyên nắm chặt lấy A Như: “Sao chúng có thể như vậy được! Đáng sợ quá, hay là mình ra bến tàu xem thử đi.”

Người phụ nữ lại nói: “Đi cũng vô ích thôi, không ra được đâu, vé cũng không mua nổi. Nhà ga và bến tàu đông đến mức không có lấy một kẽ hở, chúng tôi vừa mới chen ra được đấy.”

Một người đàn ông nói: “Cứ ở đây thôi, còn đi đâu được nữa? Họ bảo khu an toàn này là địa bàn của người Mỹ, lũ Nhật lùn không dám vào đâu.”

Bỗng nhiên, còi báo động không kích lại vang lên. Xung quanh không có hầm trú ẩn, mọi người đều sợ hãi chạy loạn, bịt tai áp sát vào tường.

Chẳng ngờ thứ rơi xuống không phải bom, mà là những tờ giấy bay rợp trời.

“Cái gì thế này?”

“Hình như có chữ.”

Giấy rơi đầy đất, mọi người đua nhau nhặt lên, trên đó in chữ Trung Quốc.

A Như không biết chữ, ôm lấy cánh tay Mạnh Nguyên: “Trên này viết gì vậy chị?”

Một nhóm người vây quanh Mạnh Nguyên, biểu cảm ngưng trọng chờ cô đọc.

“Hàng triệu quân Nhật Hoàng đã quét sạch Giang Nam, thành Nam Kinh đang bị bao vây. Nhìn từ đại thế chiến cục, trận chiến sau này có trăm hại mà không một lợi. Nam Kinh là cố đô của Trung Quốc, thủ đô của Dân quốc, là nơi tập trung các di tích danh thắng như Minh Hiếu Lăng, Trung Sơn Lăng, thực là nơi hội tụ văn hóa Đông Á… Toàn nói lời vô nghĩa.” Cô lướt qua một lượt rồi tóm tắt: “Tên Tổng tư lệnh Matsui Iwane (*) này nói nếu chịu giao nộp vũ khí thì sẽ không làm khó dân chúng và binh lính, còn bảo đảm an toàn cho chúng ta, khuyên quân đội sớm buông vũ khí, bàn giao thành Nam Kinh cho chúng.”

“Tốt quá rồi!”

Có người bên cạnh lên tiếng: “Tốt cái gì mà tốt! Chắc chắn là lừa đảo thôi! Quân Nhật giết chóc tới tận Nam Kinh, đã sớm mất sạch nhân tính rồi. Binh lính mà quỳ gối đầu hàng, có khi chúng sẽ lật lọng lại ngay!“

“Đúng thế! Không được đầu hàng!”

“Lũ Nhật lùn khinh người quá đáng.” Một gã đại hán đang nói chuyện, bỗng vứt hành lý xuống, đi thẳng về hướng Nam.

Vợ gã lập tức nhào đến ôm chầm lấy: “Anh đi đâu đấy!”

“Đi đánh quân Nhật!”

“Anh đi đánh đấm cái gì! Đến súng còn chẳng biết cầm!”

“Ông đây có cầm cái xẻng cũng phải chặn lũ ch* đ* đó lại!” Người đàn ông phẫn hận rơi nước mắt, ôm lấy người phụ nữ hôn một cái: “Hoa à, em đi tìm người khác mà gả đi!”

Dứt lời, gã đẩy người phụ nữ ra rồi sải bước chạy đi.

“Anh Tuấn!”

Sư đoàn 36 giao chiến với quân Nhật ở Thượng Hải suốt ba tháng, thương vong nặng nề, số người rút về Nam Kinh chỉ còn lại hơn ba ngàn, không được đưa lên tuyến đầu ứng địch mà được phái đi trấn giữ Hồng Sơn, Mạc Phủ Sơn, từ Ngạc Giang Môn đến bến phà Hạ Quan.

Vài ngày trước, một trung đoàn bộ binh được phái đi đánh chiếm Kỳ Lân Môn để yểm trợ sườn và lưng cho Quân đoàn 66, đẩy lùi quân Nhật ở vòng ngoài. Hà Phong ở tiền tuyến bị bom hất văng, đầu bị thanh sắt quẹt qua, suýt chút nữa là đi đời nhà ma, may mà cứu chữa kịp thời nên giữ được mạng.

Đầu anh quấn băng gạc dày cộm, phía sau gáy đã thấm ướt máu. Cánh tay phải trúng đạn nhiều ngày cũng chưa lành hẳn.

Lý Trường Thịnh không biết nhặt được đâu ra nửa điếu thuốc, châm lửa rồi nhét vào miệng anh.

Hà Phong không có tâm trí hút thuốc, đẩy tay cậu ra.

Lý Trường Thịnh bị đánh hỏng một mắt, tự mình hút: “Sao thế? Sầu đến mức đến thuốc cũng không hút nổi luôn rồi à?“

“Chú mày không hiểu Nam Kinh đâu, địa thế này ấy à, dễ công khó thủ.” Hà Phong cầm dao vạch xuống đất: “Phía Bắc là Trường Giang, quân Nhật bao vây từ ba phía thế này, vây một cái là chết tươi cả đám.”

“Thế thì phải làm sao bây giờ?”

“Còn làm thế nào được? Cứ gồng thôi. Tập trung lại đánh giáp lá cà trong phố, tận dụng địa hình thành trì, chắc là vẫn còn cầm cự được.” Hà Phong nhìn về phía những tân binh đang canh giữ đầu hẻm phía xa, một lão binh trong số đó đang dạy họ cách dùng súng.

Sau ba tháng chiến đấu ở Thượng Hải, quân đội đã sung quân thêm bốn lần, sớm đã không còn là đội ngũ tinh nhuệ ban đầu nữa. Nhìn mấy đứa tân binh này xem, gầy như khỉ, sợ là đến súng cũng nhấc không nổi.

Phía xa vang lên một tiếng nổ “ầm”, một đứa nhóc nhìn cứ như lính Nhật bước tới, ôm đầu quỳ xuống đất, sợ đến mức tiểu cả ra quần.

Không biết lại là lính tráng từ đâu bắt tới cho đủ quân số, chắp vá lung tung, trang bị thô sơ. Tám vạn quân giữ thành thì có tới ba vạn là lính mới.

Đội ngũ như thế này, đánh thế nào đây?

Hà Phong đi cà nhắc tới, xách cổ đứa nhỏ lên: “Bao nhiêu tuổi?”

Đứa nhỏ khóc mếu: “Mười ba.”

“Khóc cái con khỉ, lau nước mắt đi.”

Đứa nhỏ khóc dữ hơn: “Mẹ cháu bị bom nổ chết rồi, đầu cũng chẳng tìm thấy đâu nữa.”

“Thôi đi, gào khóc vô ích, đứng dậy mà báo thù cho mẹ nhóc.” Hà Phong buông tay, đứa nhỏ ngã xuống đất: “Còn khóc nữa anh mày nhét lựu đạn vào mồm bây giờ.”

Lão binh bên cạnh cười một tiếng: “Đừng dọa nó.”

Hà Phong đá lão một cái: “Cầm súng lên.”

Đứa nhỏ ôm lấy khẩu súng.

Tay phải Hà Phong không nhấc lên được, anh dùng tay trái giữ vững súng cho nó: “Cầm cho chắc vào. Lúc bằng tuổi nhóc là anh đây một phát súng là hạ được một con gấu đấy. Đàn ông đàn ang mà không đứng dậy thì đàn bà cả thành này biết làm sao.”

Dưới sự chỉ dẫn của anh, thằng bé bóp cò bắn một phát súng, Hà Phong vỗ vỗ vai nó: “Lo mà tập cho tốt, nếu không tụ được thì còn có bọn anh đây.”

Tướng Đường thề chết bảo vệ Nam Kinh, lệnh cho tàu thuyền bên sông rút đi, quyết tâm đánh quả cảm, sĩ khí tăng vọt.

Quân Nhật thấy quân kháng chiến không đầu hàng thì lập tức triển khai tấn công toàn diện.

Xe pháo và máy bay quân địch luân phiên oanh tạc, Vũ Hoa Đài lửa cháy ngút trời, khói đen mù mịt. Các tướng sĩ thủ vững trận địa, chiến đấu liều chết với quân Nhật, triển khai đánh giáp lá cà bằng lưỡi lê.

Quân giữ thành gần như bị tiêu diệt toàn bộ, Vũ Hoa Đài thất thủ.

Ngay sau đó, Trung Hoa Môn thất thủ, Tử Kim Sơn cũng thất thủ.

Bến tàu Hạ Quan chật kín người muốn qua sông, tàn quân trong thành cũng lần lượt rút về phía này, nhưng trên mặt sông không còn lại một chiếc thuyền nào.

Hôm qua vừa hạ lệnh thề sống chết với Nam Kinh, giờ lại lệnh cho toàn quân rút lui. Do vấn đề truyền đạt mệnh lệnh nên đại bộ phận quân đội bị kẹt lại trong thành, đội ngũ rối loạn, quân và dân chen lấn xô đẩy tại bến tàu Hạ Quan.

“Mẹ nó, lại rút lui, chẳng phải đã bảo thề sống chết cùng thành à! Ở Thượng Hải cũng thế, lúc thì thủ lúc thì rút, coi bọn này là khỉ chắc? Dân chúng đều kẹt ở đây, thân làm lính thì mặt mũi đâu mà rút với chả lui!” Hà Phong quay người đi thẳng: “Muốn rút thì các người rút đi, ông đây không đi.”

“Cậu quay lại cho tôi, đây là quân lệnh.”

“Quân lệnh cái con mẹ ông.” Hà Phong đá văng bao cát, cướp lấy súng và lựu đạn của người bên cạnh, đi về hướng khác: “Muốn vào thành thì bước qua xác ông đây này.”

Khương Thủ Nguyệt và Tiếu Vọng Vân đến Nam Kinh vào buổi trưa.

Vài ngày trước, cha của Khương Thủ Nguyệt là Khương Liên quay về Nam Kinh để lấy bài vị tổ tiên và dời mộ tổ, không ngờ bị trúng đạn lạc mà chết. Tiếu Vọng Vân bất đắc dĩ phải mạo hiểm theo cô về để lo hậu sự cho ông cụ.

Từ giữa tháng trước, người làm trong nhà họ Khương đã về quê hết, phủ đệ rộng lớn không người trông nom, trên bàn phủ một lớp bụi dày.

Khương Thủ Nguyệt cẩn thận gói ghém bài vị và tro cốt của Khương Liên lại đặt gọn gàng vào trong rương, định vội vàng rời khỏi Nam Kinh. Ai ngờ người tị nạn quá đông, họ ngang nhiên cướp mất xe của hai người.

Tiếu Vọng Vân phải nhờ đến quan hệ, khó khăn lắm mới mua được hai tấm vé tàu với giá cắt cổ, sáng mai khởi hành, họ phải ở lại đây thêm một đêm.

Các cửa hàng trên phố đã đóng cửa, người tị nạn chạy loạn khắp nơi, đường xá đầy rẫy tử thi.

Không còn nơi nào để ăn cơm, Tiếu Vọng Vân dẫn Khương Thủ Nguyệt đi tìm Tạ Trì, nhưng lại thấy tiệm sườn xám của cô đã bị đánh bom đến mức bay cả mái nhà. Đến chỗ ở của cô xem thử, tuy căn biệt thự vẫn còn nguyên vẹn nhưng đã bị người tị nạn chiếm giữ.

Có lẽ cô đã rời khỏi Nam Kinh rồi.

Tiếu Vọng Vân mua lại của người dân hai chiếc bánh bao, ăn tạm cho đầy bụng rồi lại quay về nhà họ Khương.

Sáng sớm ngày hôm sau, họ vội vã chạy ra bến tàu Hạ Quan. Nơi đó người đông như kiến, người có vé, người không vé, người đi xe, người kéo xe, chen chúc đến mức không còn lối đi.

Tiếu Vọng Vân nắm chặt tay Khương Thủ Nguyệt, sợ dòng người chen lấn lại lạc mất. Thấy cô ôm khư khư hũ tro cốt, anh bảo: “Để anh ôm cho.”

Khương Thủ Nguyệt lắc đầu: “Không cần đâu, em không mệt.”

Bên cạnh có một gia đình đang chia tay, họ khóc lóc ôm chồm lấy nhau. Người già trong nhà khóc đến sưng cả mắt, có vẻ như vì không có vé tàu nên đành phải ở lại, Khương Thủ Nguyệt nhìn họ mà trong lòng xúc động không thôi.

Người phụ nữ trẻ tuổi dặn dò: “Cha ở khu an toàn trốn cho kỹ nhé, đợi bọn con quay về.”

“Đi đi, đi đi, thầy bói bảo mạng cha thọ lắm, bom đạn đều phải né cha ra, không có chuyện gì đâu. Quan chức Nhật cũng nói rồi, họ không giết dân thường, đừng lo lắng quá.”

Người phụ nữ vừa định dắt đứa nhỏ đi, đứa cháu nội đã ôm lấy chân ông lão gào khóc thảm thiết: “Ông nội ơi, ông đi cùng với tụi con đi, con không nỡ xa ông đâu.”

Ông lão ngồi thụp xuống lau nước mắt cho nó: “Ông ở đây trông nhà mà, con theo mẹ ra ngoài chơi một vòng, lúc về ông làm món ngon đợi con.”

“Con không cần món ngon, con cần ông nội cơ.”

Khương Thủ Nguyệt nhìn mà lòng thấy đau nhói, cô buông tay Tiếu Vọng Vân ra, trực tiếp ấn tấm vé của mình vào tay ông lão: “Cụ ơi, cụ lên tàu đi ạ.”

Tiếu Vọng Vân còn chưa kịp phản ứng thì vé đã nằm trong tay ông lão. Cả gia đình họ vừa khóc vừa cúi đầu cảm tạ, Khương Thủ Nguyệt đỡ họ dậy rồi quay lưng bước đi.

Tiếu Vọng Vân kéo cô lại: “Thủ Nguyệt, em làm gì vậy?”

“Em không đi nữa, anh đi đi.”

Tiếu Vọng Vân nhìn cô, im lặng hồi lâu rồi xách vali, khoác vai dìu cô rời đi: “Anh ở lại với em, để anh thử tìm vé lần nữa xem sao.”

“Vọng Vân.” Khương Thủ Nguyệt ngước nhìn anh: “Em không đi nữa, Nam Kinh là quê hương của em, em đã lớn lên ở đây.”

“Nhưng ở đây nguy hiểm lắm, em không biết những chuyện súc sinh mà lũ Nhật làm ư?”

“Em có thể vào khu an toàn.”

“Không được, phải đi. Chúng ta về trước đã, chuyện vé tính sau, chắc là vẫn còn kịp.”

“Vọng Vân.” Khương Thủ Nguyệt nhíu mày: “Xin lỗi anh, là em đã liên lụy đến anh, khiến anh cũng bị kẹt lại đây.”

Tiếu Vọng Vân xoa đầu cô: “Hai đứa mình thì còn nói gì chuyện xin lỗi, em ở đâu thì anh ở đó.”

Khương Thủ Nguyệt mỉm cười: “Vậy chúng ta về nhà thôi.”

Giờ đây, nghìn vàng cũng không thể đổi được một tấm vé. Thấy quân đội đã rút, thành sắp vỡ đến nơi, Tiếu Vọng Vân đưa Khương Thủ Nguyệt đến khu an toàn. Nhìn biển người đông nhìn nghịt cả trong lẫn ngoài, tính tiểu thư của cô lại trỗi dậy, chê bẩn chê loạn, chê không có chỗ nằm tử tế nên nhất quyết không chịu ở lại.

Tiếu Vọng Vân không làm gì được cô, cả hai đành quay về phủ đệ nhà họ Khương.

Buổi chiều, một nhóm người tới gõ cửa, nói rằng khu an toàn không nhận thêm người nữa, họ không còn nơi nào để đi. Khương Thủ Nguyệt mủi lòng, thu nhận hết cả hai ba mươi người vào nhà. Tiếc là trong nhà chẳng còn đồ đạc gì, chỉ còn lại ít lương thực thừa của người làm trước đây. Người đông gạo ít, chỉ có thể nấu cháo loãng. Khương Thủ Nguyệt lại không biết nấu nướng nên phải nhờ một bà cụ vào bếp giúp, nấu xong thì chia cho từng người, ai nấy đều vô cùng cảm kích.

Tiếu Vọng Vân vẫn muốn rời khỏi Nam Kinh, còn chưa kịp ngồi ấm chỗ đã lại ra ngoài tìm cách, đến tận tối mịt mà vẫn chưa về. Khương Thủ Nguyệt lo lắng ra ngoài tìm, thấy trên phố vứt đầy súng ống và quân phục. Thấy đám người tị nạn trong nhà đang thiếu áo mặc, cô liền nhặt một ít mang về giấu đi.

Mọi người đã đi ngủ cả, Tiếu Vọng Vân mang theo một ít lương thực trở về. Khương Thủ Nguyệt bưng cho anh một bát cháo, Tiếu Vọng Vân đón lấy, hơi ngạc nhiên: “Em nấu à?”

“Không phải, là do một thím khác nấu. Cháo nguội rồi, để em hâm nóng lại nhé?”

“Không cần đâu.” Tiếu Vọng Vân đói lả, húp vài ngụm là sạch nhẵn.

Chuyện ăn uống là một vấn đề hết sức quan trọng, chút lương thực trong nhà e là khó duy trì nổi một ngày. Trời chưa sáng, Tiếu Vọng Vân dặn Khương Thủ Nguyệt phải cẩn thận, đừng ra ngoài, rồi anh lại ra ngoài tìm lương thực.

Vừa đi được hai con phố, máy bay Nhật đã ném bom khắp nơi. Tiếng nổ oanh tạc khiến thành phố vốn đã biến thành phế tích này càng thêm tan tành, gạch ngói vỡ vụn bắn tung tóe. Vô số người chạy nạn ngã gục trong vũng máu và đống đổ nát.

Tiếu Vọng Vân nhìn thấy một ông lão bị đá đè, định lên tiếng giúp đỡ, không ngờ một quả bom khác lại rơi xuống ngay gần đó. Ông lão không cứu được, mà chính anh cũng bị hất văng ra rồi ngất lịm đi.

Đến khi tỉnh lại đã là buổi tối, anh đang nằm trên một chiếc giường ở đại sảnh bệnh viện.

Xung quanh vang lên tiếng kêu la thảm thiết, các giường bệnh chỉ cách nhau một khoảng vừa đủ một người đi qua, chật chội đến mức có thể ngửi thấy mùi máu tanh nồng từ người nằm giường bên cạnh.

Cô y tá đang thay thuốc cho người đàn ông bên cạnh, thấy anh mở mắt thì nói: “Anh tỉnh rồi, đừng cử động lung tung.”

“Bây giờ là mấy giờ rồi?”

“Gần chín giờ.”

Tiếu Vọng Vân ngồi dậy, cảm thấy đầu mình vừa đau vừa choáng.

“Anh mau nằm xuống đi, đừng có lộn xộn.”

Tiếu Vọng Vân không định nằm lại đây, anh phải về tìm Khương Thủ Nguyệt. Cả ngày không thấy anh về, chắc chắn cô đang lo đến phát điên rồi.

Vừa định lật chăn đứng lên, anh nghe thấy tiếng súng nổ vang lên không xa: “Bên ngoài có chuyện gì vậy?”

Cô y tá vội vã ngoảnh lại nhìn anh một cái, ánh mắt mờ mịt vô hồn: “Thành Nam Kinh… mất rồi.”

Vô số thiên đăng chậm rãi bay lên trên bầu trời Tokyo.

Để ăn mừng quân Nhật chiếm đóng Nam Kinh – thủ đô của Trung Hoa Dân quốc, nhân dân Nhật Bản đã tổ chức diễu hành ăn mừng, biểu diễn, ca hát, nhảy múa.

Khắp các con phố tiếng chiêng trống vang trời, người người hò reo, ăn mừng thâu đêm suốt sáng.

Mà lúc này tại Nam Kinh, toàn thành phố đang bị bao trùm trong một làn sương máu u ám.

Vô số tiếng gào thét bi thương  vang vọng khắp mọi ngóc ngách của thành phố.

Nơi đây trông chẳng khác gì, hay đúng hơn chính là…

Một địa ngục trần gian.

***

Lời editor: Vui lòng chuẩn bị tâm lý thật kỹ =((

Thảm sát Nam Kinh, cũng thường được gọi là vụ “Cưỡng h**p Nam Kinh”, là một tội ác chiến tranh do quân đội Nhật Bản tiến hành bên trong và xung quanh Nam Kinh, Trung Quốc sau khi thành phố này rơi vào tay Quân đội Thiên hoàng Nhật Bản ngày 13 tháng 12 năm 1937. Thời gian diễn ra cuộc thảm sát vẫn chưa được biết rõ, dù bạo lực đã kết thúc trong vòng sáu tuần, cho tới đầu tháng 2 năm 1938.

Con số thương vong cụ thể là một chủ đề được bàn cãi hết sức gay gắt giữa các nhà nghiên cứu. Các ước tính từ 40.000 lên đến 300.000 người. Con số 300.000 người lần đầu tiên được Harold Timperly, một nhà báo tại Trung Hoa trong thời gian này đưa ra vào tháng 1 năm 1938. Con số này có lẽ bao gồm cả những người bị thảm sát ở những vùng xung quanh thành phố Nam Kinh trong thời gian chiếm đóng của Nhật Bản.

(Theo Wikipedia)

[Đọc truyện miễn phí tại truyenfull.win]

Bạn có thể dùng phím mũi tên hoặc WASD để lùi/sang chương.